Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Giải phẫu cơ quan tình thông tin báo hùng mạnh nhất thế giới

Bìa cuốn Body Secretscủa tác giả James Bamford.

Đó là tên cuốn sách của James Bamford do nhà xuất bản Doubleday, NewYork, xuất bản năm 2001 với đầu đề Body Secrets. Bản dịch tiếng Đức được xuất bản trong cùng năm bởi nhà xuất bản C. Bertelsmann,München. NSA là tên viết tắt của National Security Agency (Cục an ninh quốc gia)của Mỹ. Tác giả James Bamord đã làm cuộc “giải phẫu” toàn diện tổ chức này, nên tác giả đã dùng các bộ phận của cơ thể hoặc các khái niệm liên quan đến con người để đặt tên cho các chương của cuốn sách như: Mồ hôi (chương 2), Dây thần kinh (chương 3), Các nắm đấm (chương 4), Mắt (chương 5), Tai (chương 6), Máu (chương 7), Xương sống (chương 8), Adrenalin (chương 9), Mỡ (chương 10), Cơ bắp (chương 11), Tim (chương 12), vong hồn (chương 13), Não (chương 14). Riêng chương 1 có tên “Hồi ức” nói về lịch sử ra đời của NSA.

Chương 1của cuốn sách tuy chỉ gói gọn trong 6 trang nhưng tác giả đã đại quát được sự ra đời, phát triển với tốc độ phi mã, tầm qua trọng đặc biệt, thuộc tính tuyệt mật và quy mô đồ sộ (cả về số lượng nhân viên lẫn cơ ngơi và trang thiết bị), địa bàn hoạt động… của tổ chức lớn nhất trong số các tổ chức có chức năng tình báo, trinh sát viên, an ninh của Mỹ, kể cả CIA.

NSA là một tổ chức bí hiểm của quân đội Mỹ, được thành lập năm 1929 (sau khi tổ chức dân sự với chức năng na ná bị giải thể - ND), lúc đấu với tên gọi “Signal Intelligence Service”/SIS (Cơ quan do thám tín hiệu mật mã), lúc đầu William Frederick Friedman (sau này trở thành Giám đốc của NSA), vừa là người đảm đang vừa là viên chức độc nhất của SIS; mãi một năm sau mới chiêu tập được thêm ba viên chức đều là các kiền dạy toán ở các trường đại học và cao đẳng. SIS có nhiệm vụ phân tách và giải mã các hệ thống mật mã của nước ngoài. Lúc đầu SIS chỉ có một phòng làm việc (phòng số 3416) trong Munitions Building (thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ) gần Đài tưởng vọng Washington, rộng 25 m² được thiết kế như một két sắt khổng lồ với hai lần cửa sắt dầy có khóa số và bên trong nếu không bật đèn thì tối đen như trời đêm không có trăng sao, nên chi phòng này còn được gọi là “phòng đen của Mỹ” (American Black Chamber). Như vậy cuối tháng 6.1930 tất thảy bộ máy mật mã (Cryptology) của quân đội Mỹ - gồm cả viên chức, trang thiết bị và hồ sơ – còn đủ chỗ khá thoải mái (!) trong một phòng kết sắt lớn chỉ rộng 25m².

NSA là tổ chức kế tục trực tiếp của SIS. 71 năm sau từ “Black Chamber” ban đầu rộng 25 m² đã phát triển thành cả một tỉnh thành biệt lập và bí mật tuyệt đối với thể giới bên ngoài, được gọi là “Crypto-City” (Thành phố mật mã). Đô thị này có trên 60 tòa nhà đồ sộ gồm văn phòng làm việc, các nhà kho, nhà máy, phòng thí nghiệm và nhà ở, có cả phòng làm lễ thánh hàng tuần! Tại đó có hàng chụchttp://www.Idee.Vnngàn viên chức làm việc được giữ bí mật tuyệt đối mà ngay cả vợ hoặc chồng của họ cả đời cũng không hề biết họ làm gì. Như vậy, từ một Black Chamber ban sơ đến năm 2001đã phát triển thành một “vương quốc đen”, đó chính là trụ sở của NSA, tổ chức tình báo mật nhất và tiền tiến nhất địa cầu! Theo khích của William O. Studeman, Đô đốc 3 sao và là Giám đốc NSA, “Chúng tôi (NSA) là tổ chức lớn nhất và về kỹ thuật tiến tiến nhất trong hết thảy các tổ chức tình báo, trinh sát viên của Mỹ. Và vế số lượng viên chức và ngân sách chúng tôi cũng lớn nhất… Chúng tôi không chỉ có rất nhiều viên chức làm việc tại hội sở của NSA ở Maryland (một bang của Mỹ -ND), mà số lượng viên chức làm việc ở bên ngoài còn lớn hơn nhiều chủ yếu trong lĩnh vực quân sự, mà chúng tôi gánh vác… Có tới hàng chục ngàn người và ngân sách hàng năm của hệ thống của chúng tôi lên đến hàng tỷ - hàng tỷ USD” (phát biểu của Studeman tại một cuộc gặp thông tin cho một nhóm nhỏ đại diện của địa phương).

Crypto City cũng là nơi tụ hội các các máy tính siêu mạnh lớn nhất thế giới cũng như các nhà toán học và ngôn ngũ học xuất sắc. Bên trong hàng rào của Crypto City thời gian được đo bằng một phần triệu của một phần tỷ giây (Femto giây), các nhà khoa học đang nghiên cứu (thời điểm 2001) chế tác ra các máy tính có công suất Quadrillion phép tính trong một giây (tức thị 1.000.000.000.000.000.000.000.000 phép tính/giây).

Từchương 2trở đi tác giả đã dành hầu như ắt nội dung cuốc sách đểthể hiện khá chi tiết quờ quạng hoạt động của NSA từ cuối chiến tranh thế giới thứ II đến cuối thế kỷ 20, sau khi chấm dứt chiến tranh lạnh. Theo đó, phần nhiều nửa cuối thế kỷ 20 mục tiêu quan trọng nhất của NSA là bẻ khóa hệ thống mật mã rất tinh xảo của Liên Xô và nghe trộm các tin tưởng.#, Thông báo bí ẩn nhất của nước này phát qua sóng. Ứng, hoạt động của NSA nhằm vào Liên Xô cũng được diễn tả trong phần nhiều nôi dung của cuốn sách.

Tuy vậy, xen trong nhiều chương tác giả cũng đã nói về hoạt động tình báo, trinh sát (chủ yếu là do thám bằng các công cụ điện tử) của CIA và NSA tại Việt Nam ngay từ những năm 50 để hỗ trợ quân đội Pháp, và đặc biệt trong chiến tranh Việt Nam của đế quốc Mỹ như: chương 4 (trang 97 – 98); chương 5 (trang 100); chương 9 (trang 282 – 347); chương 10 (trang 399); chương 11 (trang 447); chương12 (trang 493-494) và chương 13 (trang 546). Đáng chú ý là tuốt tuột chương 9 của cuốn sách dành để nói về hoạt động do thám và trinh sát của NSA trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đẵn là ở miền Nam Việt Nam.

Đáng để ý là các trang viết về sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964. Sau khi thuật lại màn kịch mà CIA và quân đội Mỹ đạo diễn trong cái gọi là sự kiện Vịnh con lợn để tạo cớ tấn công Cu Ba (17.4.1961) tác giả đã so sánh với sự kiện Vịnh Bắc Bộ (5.8.1964) ở miền Bắc Việt Nam như sau:

“Nhìn lại, các tài liệu (mật) cho người ta cái nhìn mới vào cách tư duy của giới lãnh đạo quân sự Mỹ ngực đầy huân chương. Tuy các tướng soái (Mỹ) không đạt được ý đồ phê chuẩn một cái cớ ngụy tạo để tiến hành một cuộc chiến tranh chống Cu Ba, nhưng họ đã có thể gây ra cuộc chiến tranh ở Việt Nam theo cách đó. Trên 50.000 người Mỹ và trên 2 triệu người Việt Nam đã bị giết chết trong cuộc chiến tranh này.

Từ lâu người ta đã nghi ngờ rằng sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964 – đốm lửa châm ngòi cho cuộc chiến tranh lâu dài của nước Mỹ ở Việt Nam – cốt yếu là do các quan chức chính phủ Mỹ dàn dựng lên hoặc (cố tình) khiêu khích, để giành được sự ủng hộ của Quốc hội và dư luận cho sự can thiệp của Mỹ. Trong quá trình nhiều năm sau, về cái gọi là cuộc tiến công của các tàu mang thủy lôi của miền Bắc Việt Nam vào hai khu trục hạm của Mỹ trên Vịnh Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều câu hỏi nghi vấn. Nhưng những kẻ bênh vực (cho sự kiện này) của Lầu Năm góc thì luôn luôn chối cãi với lập luận rằng các quan chức cao cấp của chính phủ (Mỹ) sẽ không bao giờ làm chuyện lừa lật như thế.

Nhưng từ khi các hồ sơ về chiến dịch Northwoods (chiến dịch do CIA và Lầu Năm góc hoạch định để có cớ tấn công Cu Ba, nhưng không thực hành được - ND) được tiếp cận thì có thể thấy rõ rằng sự lường gạt dư luận và việc tạo ra một cách giả tạo các cuộc chiến tranh, trong đó người Mỹ phải đấu tranh và chết đã trở thành biện pháp chính trị “bình thường” (!) tại các cấp cao nhất của Lầu Năm góc. Trên thực tiễn sự kiện Vịnh Bắc Bộ đã được thực hiện theo kịch bản của chiến dịch Northwoods. “Chúng ta có thể cho nổ tung một con tàu của Mỹ trong Vịnh Guantanamo và vu cho Cu Ba gây ra vụ đó… Danh mục các thiệt hại được đăng trên các báo Mỹ sẽ tạo ra một làn sóng thịnh nộ cần thiết trên quy mô toàn quốc”. Người ta chỉ cần thay tên “Vịnh Guantanamo” bằng tên “Vịnh Bắc Bộ” và từ “Cu Ba” bằng “Việt Nam”. Bất luận sự kiện Vịnh Bắc Bộ có được dàn dựng hay không, nhưng giới lãnh đạo của Lầu Năm góc hồi đó rõ ràng dám tạo ra một sự lừa gạt như vậy”.

Tiếp theo trong chương 9 với tiêu đề Adrenalin (Hóc môn kích thích do tuyến thượng thận sinh ra - ND) tác giả đã miêu tả chi tiết diễn biễn của sự kiện Vinh Bắc Bộ , đặc biệt trong thời gian từ cuối tháng 7 đến ngày 04.8.1964, ngày Quốc hội Mỹ dựa trên những “bằng chứng” ngụy tạo do quân dội Mỹ đứng đầu là Bộ trưởng quốc phòng McNamara dàn dựng tại đó đã phê duyệt cái gọi là “quyết nghị Vịnh Bắc Bộ”, với quyết nghị đó nước Mỹ chính thức lao vào bãi bùn lầy không đáy đã đi vào lịch sử với tên goi là cuộc chiến tranh Việt Nam”.

Chi tiết của sự kiện này sẽ được giới thiệu trong một bài khác.

Trần Ngọc Quyên