Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Làm phê bình, nhất quyết phải có tấm lòng

Tranh: Hoàng Tường
Các vai ấy, cho dù không lớn, không thật sự nổi bật nhưng nói một cách không hể quá rằng, nó âm thẩm góp phần tích cực vào đời sống văn nghệ nước nhà trong suốt mấy chục năm qua. Ông là Nguyễn Thụy Kha – thực ra, nhiều người thích gọi ông một cách giản dị như thế, bởi chỉ cần như thế, cũng đủ mường tượng ra ông rồi.

Dáng người cao to, hoạt ngôn trong các cuộc “tụ bạ” của giới văn nghệ sĩ. Mà các cuộc tụ bạ như thế, người ta thích có mặt ông, bởi ông có một trí tưởng tuyệt vời, một “cuốn từ điển sống” về chuyện làng văn nghệ - những chuyện để người ta “biết mình, biết người” và trân trọng nhau hơn.

Với nhân cách nhiều “nhà” như thế, nhưng câu chuyện của chúng tôi lại bắt đầu từ nhà doanh nghiệp - vai ít người biết đến nhất về ông. Hiện Nguyễn Thụy Kha là Giám đốc Công ty “Hòa hợp TKK”.

Gọi là công ty nghe có vẻ oai, nhưng chỉ có mình ông giám đốc và ba, bốn người “làm công ăn lương”, số còn lại, ông huy động bạn bè làm hiệp tác viên. Ông nói, phải thành lập công ty bởi ông cần có nhân cách pháp nhân để giao dịch, với lại “làm chẳng hết ý tưởng của mình” thì cần gì đến ban bệ, nọ kia...

*“Hòa hợp TKK”, cái tên nghe rất trừu tượng! Cụ thể công việc của công ty là gì, thưa ông?

“Hòa hợp TKK” - đơn giản là “Thụy Kha khờ (dại)”. Công ty luôn làm những câu chuyện âm nhạc đích thực, để thăng bằng với dòng nhạc thịnh hành bây chừ. Là dinh dưỡng cho một luồng chảy cho âm nhạc thực thụ. Từ khi mở công ty đến nay là 12 năm thì mỗi năm TKK đều đóng góp một
chuyện hữu ích cho âm nhạc.

Ngay từ năm 2001, TKK đã đưa dàn nhạc giao hưởng ra biểu diễn ngoài trời tại Trung tâm triển lãm Giảng Võ (Hà Nội), phối hợp cả nhạc trẻ vào trong đó. Đây cũng là một trong những ý tưởng của công ty - giao hòa giữa các dòng nhạc.

Đầu tư cho phim Chuyện của Pao - mời quay phim nước ngoài vào Việt Nam. Có thể nói đây là trường hợp trước tiên mời người nước ngoài vào quay phim ở Việt Nam. Mời nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo làm âm nhạc...

Bắt tay với Trường nghệ thuật MECA (đô thị Houston, Texas, Mỹ) đưa hơn 20 người về Việt Nam biểu diễn từ thiện. Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 tổ chức một dàn hợp xướng với 500 người trình diễn.

Làm cuốn sách 1.000 ca khúc Thăng Long - Hà Nội nhân Hà Nội kỷ niệm 1.000 năm. Tác giả cuốn sách này sẽ được trao tặng kỷ lục nhà nước về người chọn được nhiều bài hát về Hà Nội nhất vào cuối tháng 8 này tại Khách sạn Rex, TP. Hồ Chí Minh.

TKK luôn có những ý tưởng để đưa âm nhạc chính thống đến với người nghe nhiều hơn. Chương trình “Hẹn hò” giới thiệu ba nhạc sĩ Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn diễn ra cách đây không lâu là một thí dụ. Hiện TKK đang tổ chức dự án Thế giới hát tiếng Việt.

*Ông có thể cho biết cụ thể dự án ấy như thế nào không?

Kêu gọi trên mạng internet ở rộng khắp thế giới. Sau đó, sẽ tính đến chuyện tinh tuyển, tổ chức trình diễn.

*Thưa, như thế có quá sức không với một công ty nhỏ bé của ông?

Cố nhiên, đó là ý tưởng của TKK, nhưng chúng tôi sẽ phải huy động các tổ chức khác cùng thực hiện.

*Ông nói, công ty chuyên làm những câu chuyện âm nhạc đích thực. Thế có nghĩa là còn có những dòng âm nhạc khác được ông cho là không thực sự?

- Hiện giờ, bên cạnh âm nhạc truyền thống từ thời tiền chiến đến nay vẫn tuôn chảy, còn có một dòng âm nhạc nữa mà người ta hay gọi là “thị trường”, nhưng tôi thì thích dùng từ “thịnh hành” hơn. Đấy là sự xuất hiện rất tự nhiên của đời sống bữa nay.

Vơ những người làm âm nhạc quen với các dòng nhạc cổ điển, tiền chiến hay cách mệnh đều ngỡ ngàng vì họ chẳng thể nắm bắt được hiện thực, không lý giải được tại sao chỉ có vài câu hát với ca từ rất đơn giản lại cuộn được một lượng khán giả lớn.

Dòng âm nhạc này có tác động rất khác nhau giữa những người sống ở các thời đại khác nhau và nó nghiêng về vấn đề giải trí, hạp với giới trẻ hiện giờ, không muốn nhắc lại những quá vãng đau đớn, muốn có một tình cảm mới.

Âm nhạc thịnh hành có ưu điểm là đến rất nhanh với lớp trẻ nhưng lại thiếu đi điều mà bấy lâu người ta vẫn nói đó là vấn đề thẩm mỹ.

*Theo ông, như thế thì có hiểm không, giả dụ thẩm mỹ của các đời sau, bởi thế mà sẽ bị sai lệch đi?

Âm nhạc thịnh hành làm cho con người ta phải có nghĩ suy mới lên. Nhưng chỉ thế thôi, bởi khi lớn tuổi hơn, người ta sẽ có thời gian nhìn lại. Không thể đánh đồng những nhạc sĩ của thời trước với những nhạc sĩ của dòng nhạc thịnh hành được.

Điều này chỉ có thể làm xoa dịu cho một lớp trẻ khôn cùng vô tư lự, không biết gì đến dĩ vãng. Mặt khác, chính vì sự thiếu chuyên môn của dòng nhạc này nên bên cạnh một bộ phận giới trẻ thích, vẫn có một bộ phận tìm về với các tác phẩm âm nhạc truyền thống.

*Tuy vậy, có vẻ như dòng nhạc thịnh hành này vẫn gây lo ngại cho nhiều người trong giới chuyên môn, đặc biệt là giới phê bình âm nhạc - bởi họ cho rằng thẩm mỹ kém, đáp ứng thị hiếu tầm thường... Ý kiến của ông thế nào?

- Phải nói thật, trong tư duy của tôi, nước ta chưa có nhà phê bình âm nhạc, vày họ chỉ mang những điều đã được học hành ứng dụng vào những chỗ không song song, không đồng pha. Tôi cho rằng, đã là nghệ thuật thì kiểu gì cũng phải trở về thực sự.

Giống như bác mẹ nào cũng lo lắng cho những đứa con nghịch ngợm của mình, nhưng rồi chung cục, đứa nào cũng khẳng định sự nghiệp của nó. Chỗ này chúng ta góp một đôi câu, một đôi tác phẩm, chỗ kia cũng thế... Thảy điều đó làm nên nội lực của dân tộc.

Nếu dân tộc đã mạt thì cả thảy các điều đó sẽ mạt. Không có âm nhạc nào có thể cứu vãn được một dân tộc cả. Nhưng âm nhạc Việt Nam đã từng góp phần giúp Việt Nam thắng Mỹ thì tôi tin tưởng rằng không bao giờ âmnhạc Việt Nam thua kém trong ngày mai.

Tôi rất kiêu hãnh giờ có những nhạc sĩ trẻ đang đi trên con đường nối tiếp các nhạc sĩ phía trước bằng những tác phẩm rất lớn. Thí dụ Trần Mạnh Hùng với các ca khúc và giao hưởng:Giấc mơ màu lá, Lệ Chi viên, Việt Anh - người đã có những ca khúc rất đẹpKhông còn mùa thu, Dòng sông lơ đãng, Mưa trường bay;các giao hưởngKhúc tưởng niệm, Vàng son. Hay những ca khúc của Lê Minh Sơn, Đỗ Bảo, Quốc Bảo, Võ Thiện Thanh, Giáng Son...

Mỗi thời đại có một số bộ mặt như thế là quá hay rồi. Họ đều là những người nối được quá vãng. Có một thực tế là hiện tại truyền thông
quá lan tràn, buộc người ta phải nghe quá nhiều thứ. Ngày xưa chỉ có một luồng thôi, còn giờ là đa kênh. Đó cũng chính là sự thử thách cho người nghe.

*Vậy Nguyễn Thụy Kha là ai giả dụ ông nói là ở nước ta chưa có nhà lý luận phê bình âm nhạc thực sự, trong khi mọi người vẫn gọi ông là nhà phê bình?

Có nhẽ đó là do mọi người thấy tôi hay viết dạng đó thì gọi thế. Tôi chẳng có bằng cấp gì về lý luận phê bình âm nhạc mà chỉ viết theo gợi ý của cụ Văn Cao thôi. Cách đây mấy chục năm, cụ đã nói với tôi: “Viết đi, cảm nhận như thế nào thì viết như thế, dùng kiến thức, hiểu biết của mình mà viết...”. Và thế là “Nửa thế kỷ ca khúc Việt Nam”, “Những bộ mặt âm nhạc thế kỷ”, “Huy Du”, “Nguyễn Thiện Đạo, nhạc sĩ bị giời đày”... Tuần tự ra đời.

Còn những người có bằng cấp, họ được đào tạo cẩn thận, tôi nghĩ rằng đó là một sự lãng phí, đào tạo sai. Phần nhiều chỉ nói những câu chuyện rất vớ
vẩn trong học thuật và chẳng biết gì về đời sống này, bản thân họ cũng không muốn dấn thân, không biết ai vào với ai, nói về từng con người đều rất ngắc ngứ vì họ không có tình ái.

Để làm được lý luận phê bình thì phải có tình yêu với cái nghề của mình, với các tác phẩm, với đồng nghiệp của mình. Số đó rất trống vắng. Hiện, tôi cho rằng chỉ có một đôi người có tình ấy, tỉ dụ như Nguyễn Thị Minh Châu...

Nói ra thì những người khác sẽ “xù lông” lên, nhưng phỏng chừng họ có một công trình nào không (có thể chỉ qua một tập sách thôi chả hạn), rồi sau đó chúng ta cùng đánh giá thì biết ngay họ là ai.

Tôi cũng đang trông chờ vào một số người trẻ, mong có vài người có thể dấn thân như tôi, có thể đỡ đần những công việc mà tôi đang làm. Hiện, rất ít người viết về âm nhạc bác học ở Việt Nam.

*Nhiều người lo ngại rằng, âm nhạc đương đại Việt Nam hiện không có bản sắc riêng và đó cũng là trở ngại cho việc đưa ra với thế giới. Ông có nghĩ như vậy không?

- Tôi cho rằng, hành trình đưa bản sắc dân tộc vào tân nhạc Việt Nam được bắt đầu từ đầu thế kỷ XX và bây giờ vẫn tiếp chuyện. Đầu thế kỷ trước, âm nhạc truyền thống Việt Nam đứng trước một xử sự chân thành thế =với âm nhạc phương Tây. Khi ấy, chèo truyền thống rời chiếu làng sân đình ra đô thị biến thành chèo Văn Minh và sau đó là chèo canh tân.

Ca trù thì cụm, tồn tại như một thách thức với âm nhạc châu Âu, cũng làm cho nhiều người phương Tây phải kính nể. Tuồng cũng hoàn thiện và phát triển, đã từng biểu diễn tại hội chợ Thuộc địa tại Paris khiến cho nhạc sĩ trường phái ấn tượng Claude Debussy cực kỳ sửng sốt và bái phục.

Ca Huế thì phát triển vào đất Quảng trở nên hò Quảng, vào đến Đồng bằng sông Cửu Long thì biến thành đờn ca tài tử. Từ đó, phát triển thành ca kịch cải lương. Đàn nhạc cải lương đã khoét lõm phím cây guitare Tây Ban Nha, bỏ đi một dây và định âm lại năm dây còn lại theo ngũ cung: Hò, xừ, xang, xê, cống. Đó là cuộc đồng hóa ngược của kẻ bị xâm lăng với kẻ xâm lược...

Sau phong trào “lời ta, điệu Tây” là đến phong trào “Cải Cách”. Tân nhạc Việt Nam hoài thai và bắt đầu có tờ khai sinh là việc báo ngày nay số ra ngày 31/7/1938 cho in bài hátBình minhcủa Nguyễn Xuân Khoát, lời của Thế Lữ.

Rồi khi bắt đầu đổi thay từ những bản ký âm theo nốt của phương Tây trên những dòng kẻ, các nhạc sĩ Việt Nam đã ý thức ngay việc gìn giữ và biểu thị bản sắc dân tộc trong những sáng tác của mình.

Đó là một thực tiễn rất đáng trân trọng, là bản tân nhạc Việt Nam đã cho thấy sự cống hiến của những nhân cách, những nhóm sáng tạo khiến chúng ta luôn cảm thấy an lòng. Họ đã giữ gìn bản sắc dân tộc trong tân nhạc như giữ gìn sự thuần khiết của tiếng Việt từ chữ Nôm sang mẫu tự Latin.

*Cũng bởi mỗi khi có ai trong giới văn nghệ sĩ mất, chỉ cần gọi điện cho ông và chỉ một hai tiếng sau là đã có bài “điếu” để đăng báo rồi, nên nhiều người hay nói vui với nhau: “Nguyễn Thụy Kha là chuyên gia khóc thuê”. Ông có tự ái không về cái danh “chuyên gia” này?

Có người độc miệng còn ví tôi như con quạ chuyên rỉa... Ấy chứ. Tôi chẳng quan hoài, và nên cũng chẳng tự ái. Viết về một con người, cũng giống như một bài phê bình, ngoài tri thức, khăng khăng phải có một tấm lòng.

Vì sao rất nhiều người cũng sống cùng thời với tôi song không quan tâm đến những người sống xung quanh mình? Số thời gian và thậm chí cả kinh phí tôi từng san sớt với từng con người đó phải như thế nào chứ?

Tôi cho rằng những bài viết của tôi là một cây hương văn hóa để tưởng nhớ đến họ. Quơ những nhạc sĩ lớn nào mất đi tôi đều có bài viết cả, đôi khi
không chỉ ở một tờ báo...

*Nghe nói, ông đã từng là thiếu tá trong quân đội, vậy điều gì đã khiến một ông thiếu tá trở nên một người chuyên nghiệp trong giới văn nghệ sĩ, thưa ông?

Tôi là người Hải Phòng. Học Đại học Kỹ thuật thông tin giao thông, học xong gia nhập quân đội và công trình lớn nhất mà tôi đóng góp trong thời kỳ ở quân đội là công trình thiết kế đường dây thông báo quân sự xuyên Trường Sơn để đánh Buôn Mê Thuột. Trong lúc làm thuê trình ấy và tham gia vào các chiến dịch, tôi chứng kiến sự hy sinh của những đồng đội.

Đến 30/4/1975, tôi nhận ra rằng mình có nhu cầu làm nhạc, làm thơ, viết báo, thậm chí làm cả điện ảnh... Như hiện - để “giải tỏa” những tình cảm, tâm trạng của mình. Tôi giải ngũ bằng một lý do rất đơn giản, trong thời Đổi mới và mở cửa, tôi có viết một bài thơ in trên tùng san Sông Hương, nói về tình trạng xã hội lúc đó.

Sau này, tùng san Sông Hương bị đóng cửa, người ta nói là có “góp công” của bài thơ ấy. Đơn vị buộc tôi phải ra quân, vì không có cách nào khác cả. Từ đó đến nay đã hai mươi ba năm rồi. Hai mươi ba năm không có lương, nhưng nhờ hai mươi ba năm ấy mà tôi có số sách - xếp chồng lên nhau cao gần bằng tôi, cộng với một sự thanh tú.

Khi thành lập công ty này, tôi cũng không nghĩ là làm giàu mà chỉ hy vọng là đủ sống để làm những việc mà mình yêu thích, tái hiện sức cần lao.

Hãy nuôi tôi sống để tôi làm các việc khác hữu ích hơn. Bao lăm năm nay tôi vẫn sống trong một cái buồng ở một con phố trọng tâm chật chội, đông đúc. Rất nhiều người thay đổi được nhà to và họ tự hiểu là họ đổi thay được nhờ cái gì.

*Lại nói về thơ, ông có hay làm thơ thế sự nữa hay không?

Thực ra, tôi thích thơ lãng mạn, trữ tình hơn. Vì mình nhìn thấy con người có cuộc sống vượt qua thế sự, sự chán nản, sự thương của họ. Năm 1986, tôi có dịp được làm nhạc cho bộ phim về Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Bởi thế, khi bài thơ ấy của tôi ra đời (năm 1989) thì ông có gọi tôi lên, ăn cơm, trò chuyện... Tôi nhận ra, chỉ nói một lần về thế sự, thế là đủ và đó cũng là sự trưởng thành của chính mình.

*Trong quá trình hai mươi ba năm không có lương ấy, có lúc nào ông cảm thấy rất mỏi mệt, đặc biệt là giữa lúc xã hội đang phát triển rất nóng như hiện giờ?

-Chưa. Nhưng điều này phải cảm ơn người vợ của tôi. Vì trong lúc tôi bị “đứng đường”, không có việc làm, không có lương thì cô ấy lại cảm thấy “như thế mới là chồng mình”, cô ấy rất vui vẻ.

Thời kỳ đó báo chí lại đang phát triển, cứ mỗi ngày tôi viết một bài báo là đủ sống rồi. Chính thời gian đó tôi lại cảm thấy rất vui, vì đủ sống và không phụ thuộc, có thời gian giao lưu với bạn bè. Cho đến ngày hôm nay tôi vẫn như thế.

Cũng có lúc tôi phải vay tiền bạn bè, thậm chí là vay nhà băng, nhưng không sợ vì biết rằng mình vẫn có thể trả được nợ. Bởi trong mình vẫn còn ngập tràn sáng tạo. Sáng tạo ở mình giờ cũng chưa được coi trọng lắm, nhưng chí ít vẫn có thể sống được. Thêm nữa, hai mươi ba năm nay không bị ai mắng và không bị nhận những sự giận dữ vô cớ ở ngoài và được nói thật lòng.

*Trong các vai trò là thi sĩ, nhà báo, nhạc sĩ, nhà phê bình âm nhạc, thương lái - ông thích nhất vai nào?

- Việc nào cũng thích. Tôi là người có thể phân thân.

*Nhưng như thế, công việc liệu có hiệu quả không, thưa ông?

- Nhiều người nghĩ tôi già rồi mà còn hám. Hoặc cũng có nhiều người nghĩ rằng “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Nhưng tôi thì cho rằng quan trọng là nội lực và sự ham sống của mình. Khi ở vai nhà doanh nghiệp thì đừng có đùa với tôi về kiểm soát tài chính.

Trước một sự cập nhật đời sống tôi có thể viết ngay một bài báo, đôi khi trong sự đơn chiếc tôi có thể viết một bài thơ và đôi khi trong một sự hân hoan tôi lại viết một hợp xướng. Và như thế, tôi có cảm giác mình được sống rất nhiều chiều, đó là một sự sung sướng.

Tôi vẫn nói đùa, tôi làm báo để sống, làm nhạc để vui, làm thơ để chết và làm kinh tế để hồi sinh. Có người hỏi tôi mỗi năm làm được bao lăm tiền, tôi giải đáp rằng lãi của tôi chẳng thể tính bằng tiền. Nó là vô giá... Tôi khẳng định thế.

*Thời gian gần đây, người ta cũng thấy ông hay xuất hiện trên truyền hình, trong các chương trình đàm luận xung quanh các vấn đề âm nhạc, thơ... Vì thế mà người ta cho rằng ông hám chăng?

- Lý do tôi không khước từ bất cứ cuộc giải đáp phỏng vấn hay thậm chí là một bạn trẻ bốc điện thoại lên hỏi, là vì đó chính là cơ hội để tôi được san sớt những điều tôi đã biết, đã hiểu cùng mọi người.

*Xin cảm ơn ông về cuộc chuyện trò. Chúc ông luôn giữ được nội lực sáng tạo của mình!